Người Cơ Ho theo tín ngưỡng đa thần. Họ tin rằng mọi mặt đời sống đều do các thế lực siêu nhiên quyết định và trong quan niệm của họ. theo họ các thế lực siêu nhiên được chia thành hai phe: một bên là thần thánh luôn luôn phù hộ cho con người và một bên là ma quỷ (Chà) luôn luôn mang đến tai họa cho con người như phá hoại mùa màng, gieo rắc bệnh tật… họ tin rằng chính Chà là kẻ ăn linh hồn của người chết.
Đứng đầu các thần là Nđu (Yàng) – vị thần khai sáng ra vũ trụ và có quyền năng tối thượng để bảo vệ con người. thần Nđu ít khi được biểu hiện qua hình ảnh cụ thể. Phần đông người Cơ Ho chỉ có một ý niệm lờ mờ về vị thần này, đó là vị thần hiện diện ở khắp nơi, có quyền năng tuyệt đối và luôn che chở cho con người nhất là người nghèo khổ. Bên cạnh đó là thần Lúa, thần Đất, thần Mặt Trời, thần nước, thần núi và thần lửa luôn luôn bảo vệ và che chở cho dân làng. Hầu như trước khi làm bất cứ việc gì hay có chuyện gì xảy ra người Cơ Ho thường phải cúng viếng để cầu xin sự che chở của thần linh. Mặc dù Nđu là vị thần tối cao nhưng trong các dịp lễ người Cơ Ho ít cầu đến vị thần này mà thường cầu xin những vị thần khác thấp hơn. Vì các vị thần khác gần gũi với người dân hơn.
Do quan niệm đời sống của mình bị thần thánh và ma quỷ chi phối nên họ phải cúng lễ để cầu xin vào dịp như mùa màng, hôn nhân, tang ma, ốm đau… Tuỳ theo tầm quan trọng của buổi lễ mà họ sẽ chọn tế sống trâu, heo, dê hoặc gà. Buổi lễ nào cũng phải có con vật hiến sinh và rượu vì họ tin rằng các vị thần rất thích ăn thịt và uống rượu. Đại đa số các lễ đều do từng gia đình tiến hành và chủ gia đình là người làm chủ lễ. Trong làng không có ai chuyên giữ chức vụ tế. người phù thủy (bơjâu) không phải là người giữ chức vụ tử tế của làng, mà là nhân vật có nhiệm vụ trừ khử những tai họa trong làng, thường nhất là bệnh tật. Người Cơ Ho tin rằng phù thủy là do thần linh chỉ định. Họ có thể liên lạc và có thể biết được ý muốn của thần linh, ma quỷ do đó mà chỉ bảo được cho dân làng biết nên làm nhữn điều gì để được giải thoát khi gặp tai họa nào đó. ở một số làng phù thủy là đàn ông nhưng ở một số làng khác phù thủy lại là đàn bà. Ngoài những lúc đi chữa bệnh bằng phù phép hoặc cúng thần đẻ trừ tai họa cho dân làng phù thủy vẫn làm những công việc bình thường như làm rẫy, làm ruộng, giã gạo, lấy nước, kiếm củi…
Ngoài ra, người Cơ Ho còn nhiều tín ngưỡng và lễ nghi khác liên quan đến cuộc sống hàng ngày như cuwis hỏi, sinh đẻ, ma chay. Đó là chưa kể những kiêng cũ khi có người đẻ, người bệnh tật hay người chết…
Tôn giáo:
Dân tộc Cơ Ho không có tôn giáo chính thống. Gần đây có một bộ phận lớn người dân tin theo tôn giáo du nhập từ bên ngoài như Thiên Chúa giáo và nhất là Đạo Tin Lành dưới thời Mỹ- Ngụy.
Vào khoảng những năm 1928-1929 trở đi, một số mục sư người Mỹ đã đặt cơ sở đầu tiên cho việc truyền bá đạo Tin Lành vào vùng cư dân ở Lâm Đồng. Tiếp theo, trường kinh thánh Cơ Ho Đà Lạt được thành lập, đó là tổ chức tiền thân của trung tâm truyền giáo của khu vực người Cơ Ho sau này của Mỹ. Nhiều mục sư người Cơ Ho đã được đào tạo tại đấy từ những năm 1946-1947, nhất là sau khi chúng hất cẳng thực dân Pháp ra khỏi bán đảo Đông Dương (1954), đế quốc Mỹ trực tiếp nhúng tay vào Việt Nam, việc truyền bá Tin Lành có thêm nhiều điều kiện phát triển sâu rộng và liên tục trong vùng Cơ Ho, cũng như các dân tộc ít người ở địa pguwowng khác.
Cùng với chings sách dồn ấp chiến lược của chủ nghĩa thực dân mới, các mục sư đã có mặt kịp thời ở hầu khắp các địa phương cư trú mới của người Cơ Ho để truyền đạo. Kinh thánh và các tài liệu truyền giáo đã được dịch ra tiếng Cơ Ho và các mục sư đã sử dụng ngôn ngữ đó trong việc truyền đạo.
Tín đồ Tin Lành người Cơ Ho, ngoài một số nghĩa vụ đóng góp cho Nhà đạo, hàng năm còn phải nộp thêm 1/10 thu nhập của gia đình để nuôi các mục sư, xây dựng nhà thờ, tu viện và các cơ sở phục vụ cho việc truyền giáo. Sự đóng góp đó được coi như một trong những tín điều quan trọng của kinh thánh mà mọi người phải tuân theo. Đó là gánh nặng đặt lên vai người nông dân Cơ Ho nghèo khopr trong vùng tạm chiếm trước đây ở Lam Đồng.
